Nguyễn Công Trứ – Một nhân cách hiếm có

Nguyễn Công Trứ quê ở làng Uy Viễn (nay là xã Xuân Giang) huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông xuất thân trong gia đình có truyền thống nho học và là một vị quan đa tài dưới triều Nguyễn. Nền nếp gia phong của gia đình và tác động của xã hội đầy biến động đã ảnh hưởng rất lớn đến cuộc đời, sự nghiệp và nhân cách của ông.

Đỗ Giải nguyên ở tuổi 41, con đường làm quan nhiều thăng trầm

Tính cách ngông cuồng đã khiến Nguyễn Công Trứ nhiều lần bị giáng chức

Từ nhỏ, Nguyễn Công Trứ đã sống trong cảnh nghèo khó nhưng luôn nuôi ý tưởng giúp đời, lập công danh, sự nghiệp. Mãi đến năm 1819, khi đã 41 tuổi, Nguyễn Công Trứ mới thi đỗ Giải nguyên và được bổ làm quan. Theo Danh nhân Việt Nam, ông làm quan ở các triều vua Minh Mạng,, Thiệu Trị Tự Đức, nổi tiếng là thanh liêm, chính trực, tài trí hơn người.

Ông bắt đầu sự nghiệp làm quan với chức Hành tẩu Sử quán rồi dần lên tới các chức thượng thư, tổng đốc vì những thành tích trong quân sự và kinh tế. Thế nhưng, cũng nhiều lần, Nguyễn Công Trứ bị giáng phạt, thậm chí giáng liền ba bốn cấp, có lần bị phạt đi làm binh ở miền ven biên giới Quảng Ngãi.

Năm thứ 11 thời vua Minh Mạng, Nguyễn Công Trứ “được thụ Hữu Tham tri bộ Công, tạm giữ ấn triện bộ Hình, bỗng lại giáng làm Hữu thị lang, sung làm công việc Nội các. Lại nhân việc bị tội giáng bổ kinh huyện, rồi thăng lang trung phủ Nội vụ”. Có thể thấy, chỉ trong một năm, ông đã thăng giáng chức nhiều lần.

 

Mộ Nguyễn Công Trứ

Năm 1847, ở tuổi 70, Nguyễn Công Trứ xin về hưu nhưng vua Thiệu Trị không cho. Đến năm 1848, dưới thời vua Tự Đức, ông mới được về hưu hẳn. Thế nhưng, đến năm Mậu Ngọ (1858), khi thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, tuy đã 80 tuổi, ông vẫn tha thiết xin vua Tự Đức được tòng quân đi đánh giặc. Nhưng thấy ông tuổi già sức yếu, vua đã không chuẩn y.

Nhiều đóng góp trong công tác trị thủy

Khai hoang mà không biết trị thủy không thể tránh khỏi thất bại. Nắm rõ được tầm quan trọng của điều này, Nguyễn Công Trứ đã tiến hành nhiều công việc có tính quyết định như đào sông, đắp đê, xây dựng hệ thống thủy nông để cấp nước, đồng thời chống mặn, chống lũ lụt và chống hạn cho các vùng đất mới.

Đền thờ Nguyễn Công Trứ

Đối với mỗi địa phương khác nhau, tùy vào đặc trưng của từng vùng mà ông áp dụng những cách thức thủy nông khác nhau. Vùng đất ruộng, cấy lúa sát biển như Kim Sơn, Tiền Hải dễ bị nhiễm mặn, việc đắp đê ngăn nước mặn không cho tràn vào đồng ruộng là rất cần thiết, đồng thời đê điều còn giúp chống lụt hiệu quả.

Một số nơi khác như ven sông Trà Lý, sông Long Hầu (Tiền Hải), sông Đáy (Kim Sơn), do sự chênh lệch mức nước giữa mùa mưa và mùa khô không đáng kể, ông tiến hành bố trí khu dân cư cách xa biển, xa sông một khoảng nhất định, đồng thời bỏ hoang một ít diện tích đất về mùa mưa để đề phòng ngập lụt.

Nguyễn Công Trứ cũng rất biết tận dụng vào đặc điểm tự nhiên của sông ngòi, từ đó áp dụng vào công tác thủy nông của từng vùng. Huyện Giao Thủy vốn sẵn có nhiều kênh rạch dẫn nước vào ruộng thì không cần đào lắp thêm kênh mương. Huyện Hải Hậu, ngoài những kênh chính, ông còn cho đào thêm một số hệ thống mương cái để dẫn nước vào khắp các cánh đồng trong huyện. Hệ thống kênh mương này còn có tác dụng tạo vách ngăn địa giới giữa các làng, ấp và tạo nên mạng lưới thủy nông rộng khắp.

Tượng Nguyễn Công Trứ

Với việc kết hợp giữa sông ngòi tự nhiên và các công trình nhân tạo, có thể nói rằng hệ thống trị thủy do Nguyễn Công Trứ chỉ đạo ở Kim Sơn và Tiền Hải là hệ thống duy nhất đạt đến trình độ khoa học ở Bắc Bộ vào thế kỷ XIX. Sự sáng tạo, tận dụng được những yếu tố tự nhiên, ông đã giải quyết được những khâu cơ bản về thủy lợi, hình thành mạng lưới thủy nông hoàn chỉnh trên địa bàn huyện.

Ngoài những vùng đất mới khai hoang, Nguyễn Công Trứ còn có nhiều đóng góp trong công tác thủy lợi ở sông Hồng. Sau này khi đảm nhiệm công việc ở miền Tây Nam, ông lại hợp tác với quân dân đào kênh rạch, dẫn nguồn nước ngọt Cửu Long về đồng ruộng.

Bằng cái tài và cái tâm của mình, Nguyễn Công Trứ đã xây dựng và để lại nhiều thành quả lớn lao, xứng đáng là nhà khai hoang và trị thủy tài ba của thế kỷ XIX. Đó không chỉ đơn giản là việc khẩn hoang, mở đất, đào sông, đắp đê… mà còn là xây dựng, củng cố dải đất phòng thủ ven biển Bắc Bộ của đất nước ta, tạo cơ hội cho nhân dân an cư, lạc nghiệp.

Bút danh: Phan Khiêm 23/10/2020
bài viết được tham Khảo:
Nguyễn Công Trứ – vị quan ‘ngông’ dưới ba đời vua
Nguyễn Công Trứ – một nhân cách hiếm có
Nguyễn Công Trứ – Một kẻ sỹ “ưu thời, mẫn thế”

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *