Ấn kiếm vua Bảo Đại đang ở đâu ?

Chiều ngày 30/8/1945 tại Quảng trường Ngọ Môn (Huế), trong lễ thoái vị của vua Bảo Đại, nhà sử học Trần Huy Liệu thay mặt phái đoàn đại diện Chính phủ VNDCCH đón nhận cặp ấn kiếm từ vị vua cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.


Ông Trần Huy Liệu kể rằng, đọc Chiếu thoái vị xong, nhà vua giơ hai tay dâng lên chiếc kiếm dài nạm ngọc và sau đó là chiếc ấn vàng hình vuông. Thay mặt Chính phủ lâm thời Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ông Trần Huy Liệu tiếp nhận hai vật tượng trưng của chế độ phong kiến.

Ngay ngày hôm sau, phái đoàn phải cấp tốc quay ra Hà Nội để kịp dự lễ Độc lập 2.9.1945. Những tưởng hai món quốc bảo này đã được những người có trách nhiệm giữ gìn cẩn thận, nhưng số phận của nó lại khá long đong. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân dẫn lại lời bà Mộng Điệp – “thứ phi” của vua Bảo Đại:

Năm 1952, bà Mộng Điệp đang ở Ban Mê Thuột (sau năm 1975, đổi tên thành Buôn Ma Thuột), thì bất ngờ nhận được lời đề nghị của phía Pháp là họ sẽ trả lại ấn kiếm cho nhà vua. Bấy giờ, ông Bảo Đại đang ở Pháp nên cuộc bàn giao hai vật quốc bảo này chỉ diễn ra giữa đại diện phía Pháp và bà Mộng Điệp cùng Đức Từ Cung, mẹ vua Bảo Đại ngay tại sân bay Ban Mê Thuột.

Sau khi nhà vua từ Pháp trở về, bà Mộng Điệp có thuật lại việc trao trả này và phân vân không biết đó có phải là ấn kiếm “chính hiệu” mà nhà vua đã trao cho ông Trần Huy Liệu năm 1945 hay không. Sau khi xem kỹ hai bảo vật quốc gia này, ông Bảo Đại khẳng định đó là “đồ thật” và cho người đóng một cái cốp sắt, bỏ hai bảo vật này vào, định mang về Huế. Tuy nhiên, chiến tranh ác liệt, sợ thất lạc một lần nữa, ông Bảo Đại giao cho bà Mộng Điệp mang sang Paris rồi giao cho hoàng hậu Nam Phương. Sau khi bà Nam Phương qua đời, cặp ấn kiếm được giao cho hoàng tử Bảo Long.

Năm 1980, ông Bảo Đại xuất bản tập hồi ký Le Dragon d’ Annam (Con rồng An Nam), ông muốn dùng con dấu lịch sử đó để làm vi-nhét đặt vào cuối các chương hồi ký nhưng Bảo Long không cho mượn. Ông Bảo Đại hết sức bực mình nhưng không làm gì lay chuyển được Bảo Long. Cuối cùng ông Bảo Đại phải dùng con dấu “Việt Nam ngự tiền văn phòng” của ông Nguyễn Đệ thay cho khuôn dấu của vị Hoàng đế nước Nam.

Theo các tác phẩm “Qua Pháp tìm Huế xưa” và “Hỏi chuyện đời bà thứ phi Mộng Điệp với cựu hoàng Bảo Đại” của Nguyễn Đắc Xuân, thì cặp ấn kiếm Bảo Long giữ được gửi tủ sắt của Liên hiệp Ngân hàng châu Âu (Union des banques européennes). Sau ngày xuất bản cuốn Le Dragon d’ Annam (1980) và sau ngày Bảo Đại làm giấy hôn thú với bà Monique Baudot (1982), ông Bảo Đại làm đơn kiện con trai Bảo Long đòi lại cặp ấn kiếm. Toà xử Bảo Long được giữ cây kiếm và giao lại chiếc ấn cho Bảo Đại. Đó chính là chiếc ấn lịch sử mà cả dân tộc Việt Nam đã và đang quan tâm.

Bà Mộng Điệp kể: “Chính tay tôi đã lau chùi cặp ấn kiếm khi ông Lê Thanh Cảnh đi tàu bay từ Hà Nội đem lên Ban Mê Thuột giao cho tôi. Cái kiếm bị gãy làm đôi. Tôi nhờ hai người hầu cận là anh Tứ Lang và anh Thừa Tể đi hàn lại. Hai anh đem cái kiếm đi hàn rồi nhờ người ta mài để không còn thấy dấu vết gãy. Còn cái ấn bằng vàng, chính tay tôi cân nặng 12,9 kg. Cái núm ấn hình con rồng. Con rồng uốn cong và ngóc đầu lên. Con rồng không được sắc sảo lắm, có đính hai hạt ngọc đỏ, trông giống như con rắn”.

Theo ông Trần Huy Liệu, chiếc ấn nặng 7 kg vàng. Ông Phạm Khắc Hoè viết: “chiếc quốc ấn bằng vàng (ấy) nặng gần 10 kilôgam”. Theo Lê Văn Lân, tác giả cuốn “Chiếc bảo ấn cuối cùng của Hoàng đế Việt Nam” (xuất bản tại Hoa Kỳ năm 1998) thì chiếc ấn nặng 280 lượng 9 chỉ 2 phân vàng mười tuổi là 10,534 kg vàng. Chiếc ấn lịch sử ấy có tên là Hoàng đế chi bửu, hình vuông, mỗi cạnh dài 12 cm; dày 2 cm; cuốn núm hình con rồng lượn cong. Ấn Hoàng đế chi bảo đúc năm Minh Mạng thứ tư (1823); được đóng lên các bản cáo dụ quan trọng ban xuống.

Còn chiếc kiếm, cũng theo tài liệu của Lê Văn Lân, trên vỏ có khắc dòng chữ “Khải Định niên chế”. Tức là chiếc kiếm ra đời trong khoảng các năm từ 1916-1925. Chuôi kiếm nạm ngọc. Hình dáng chung của kiếm rất đẹp. Giá trị vật chất cũng như niên đại của cây bảo kiếm không bao nhiêu, nhưng nó được xem là quốc bảo vì giá trị lịch sử. Đó là một vật chứng quan trọng góp phần khẳng định sự thành công vang dội của cuộc Cách mạng Dân chủ tháng Tám năm 1945.

Đã 75 năm trôi qua kể từ hôm 30.8.1945, cặp ấn kiếm – tượng trưng cho vương quyền của chế độ phong kiến tồn tại hàng trăm năm ở nước ta đã được trao cho cách mạng, cũng là trao quyền lại cho nhân dân. Rất tiếc là sau ngày ấy, dân tộc ta một lần nữa đã phải đứng lên bảo vệ thành quả của mình kéo dài đến 30 năm sau đó. Những gì thuộc về lịch sử, kể cả những báu vất cũng đã bị khói lửa chiến tranh làm thất lạc. Nhưng người dân Huế cũng như cả nước sẽ không thể nào quên cái ngày lịch sử ấy – ngày mà vương quyền được trao lại trọn vẹn cho nhân dân mà hai bảo vật ấy là tượng trưng cho việc trao trả nọ.

Bút danh: Phan Khiêm 4/11/2020
Bài viết được tham khảo:
Cặp Ấn Kiếm Của Vua Bảo Đại Giờ Ở Đâu?
Về cặp ấn – kiếm của nhà Nguyễn
Cặp ấn kiếm của vua Bảo Đại giờ ở đâu?

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *